Đầm Dạ Trạch có từ bao giờ?

Về phạm trù lịch sử thì có hai thứ cần phân biệt với nhau — bởi chúng khác nhau. Đó là sự thật và việc thật. Việc thật là những gì đã xảy ra, còn sự thật là thứ mà chúng ta có được từ suy diễn biện chứng khách quan. Khách quan hàm ý là các nền tảng tri thức có thể kiểm tra được và những quan điểm hay quy luật có được sự đồng thuận của mọi người.

Như vậy sự thật là những thứ không ai có thể phản bác bằng lập luận được. Chúng ta chỉ, và chỉ có thể quan tâm tới sự thật.

Trên bản đồ đồng bằng Bắc Bộ thu được từ việc khoan sâu để xác định địa tầng chúng ta có thể thấy 3700 năm về trước vùng đầm Dạ Trạch còn là vùng ngập mặn. Như thế vào đầu Công Nguyên nó có thể là một cái đầm và ở trong đầm có những gò đống trên có cư dân sinh sống. Sự kiện sụt lún vào thế kỷ thứ 10 có thể đã làm cho nhiều gò bị chìm xuống, để lại truyền thuyết Chử Đồng Tử.

Bằng việc nghiên cứu các hạt bụi và khí hậu mà người ta nhận thấy sự kiện núi lửa Arlington phun vào năm 536 đã làm cho thời tiết nửa bắc bán cầu lạnh đi.

536: Núi lửa Arlington phun trào, làm mờ mặt trời trong 18 tháng. Nhiệt độ mùa hè giảm còn 1.5°C đến .,5°C.

536…545: Thập kỷ lạnh nhất được ghi nhận trong 2000 năm. Các mùa vụ cây trồng bị thất thu ở Ireland, Scandinavia, Mesopotamia và Trung Quốc.

540…541: Lần phun trào núi lửa thứ hai. Nhiệt độ mùa hè ở mức từ 1.4°C đến 2.7°C ở châu Âu.

541…543: Bệnh d.ị.c.h hạch Justin lan truyền qua Địa Trung Hải, giết c.h.ế.t khoảng từ 35% cho đến 55% dân số và đẩy nhanh sự sụp đổ của Đế quốc Đông La Mã.

Đầu Công Nguyên, Hán Quang Vũ đế ra lệnh giải phóng nô lệ và chuyển nền kinh tế sang quan hệ sản xuất phong kiến. Đây là một bước tiến lớn về cách mạng quan hệ sản xuất. Cuộc cách mạng này đã mang lại sức mạnh cho nhà Hán và cũng là nguyên nhân Hán hoá thành công tất cả các quốc gia lệ thuộc.

Sau khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bị thất bại, dân tộc Việt Nam bị đô hộ và bị hán hoá một cách rất tinh vi. Do phương thức sản xuất của nhà Hán ưu việt hơn, mà trong suốt 500 năm hầu như không có một cuộc phản kháng nào thành công.

Có lẽ dân tộc Việt đã không còn nếu không có một sự kiện.

Vào năm 536 núi lửa Arlington phun mạnh. Ở châu Âu và Địa Trung Hải nhiệt độ vào mùa hè năm 536 giảm xuống còn khoảng tù 1.5°C đến 2.5°C, khởi đầu thập niên lạnh nhất trong 2300 năm qua. Tuyết rơi vào mùa hè năm đó ở Trung Quốc; rồi xảy ra mất mùa, c.h.ế.t đói. Biên niên sử Ailen ghi lại “sự thiếu thốn bánh mì từ những năm 536—539”. Sau đó, vào năm 541, b.ệ.n.h d.ị.c.h hạch đã tấn công cảng Pelusium của người La Mã ở Ai Cập. McCormick nói, cái gọi là Bệnh d.ị.c.h hạch Justin đã lan rộng nhanh chóng, quét sạch từ khoảng một phần ba đến một nửa dân số của Đế chế Đông La Mã và đẩy nhanh sự sụp đổ của nó.

Như vậy từ năm 536 tới 546 đói rét một mặt đã tàn phá làm suy yếu Phương Bắc, mặt khác chế độ đô hộ trở nên tàn khốc hơn. Đó là nguyên nhân dẫn đến khởi nghĩa Lý Bí, tức Lý Nam Đế năm 541. Cuộc khởi nghĩa thành công đã làm sống lại dân tộc Việt Nam.

Lý Bí (còn gọi là Lý Bôn), quê ở Thái Bình (mạn bắc Sơn Tây). Tổ tiên ông là người Trung Quốc nhưng sang nước ta lập nghiệp từ lâu. Ông được cử giữ chức chỉ huy quân đội ở Đức Châu (nam Nghệ An – Hà Tĩnh).

– Năm 542, Lý Bí phất cờ khởi nghĩa ở Thái Bình, hào kiệt và nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Nghĩa quân đã chiếm được hầu hết các quận, huyện. Tiêu Tư hoảng sợ, vội bỏ thành Long Biên chạy về Trung Quốc. Nghĩa quân đánh bại hai lần phản công nhà Lương và giải phóng thêm Hoàng Châu. Mùa Xuân 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế (Lý Nam Đế), đặt tên nước là Vạn Xuân, niên hiệu là Thiên Đức, dựng kinh đô ở vùng cửa sông Tô Lịch (Hà Nội).
– Triều đình gồm hai ban văn, võ. Tinh Thiều đứng đầu ban văn, Phạm Tu đứng đầu ban võ.

Tháng 5 năm 545, vua Lương cử Dương Phiêu làm Thứ sử Giao Châu, cùng với tướng Trần Bá Tiên chỉ huy một đạo quân lớn theo hai đường thuỷ, bộ tiến xuống Vạn Xuân.

Lý Nam Đế chống cự không nổi, phải lui quân về giữ thành ở cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Thành bị vỡ, lão tướng Phạm Tu tử trận (đền thờ tại vùng sông Tô Lịch nối với sông Nhuệ). Lý Nam Đế phải đem quân ngược sông Hồng về giữ thành Gia Ninh (Việt Trì – Phú Thọ). Đầu năm 546, quân Lương chiếm được thành Gia Ninh, Lý Nam Đế phải chạy đến miền núi Phú Thọ ; sau đó lại đem quân ra đóng ở hồ Điển Triệt.

Vào một đêm trời mưa to, gió lớn, Trần Bá Tiên chỉ huy đoàn quân đánh úp vào hồ Điển Triệt. Quân Lý Nam Đế tan vỡ. Lý Nam Đế chạy vào động Khuất Lão (Tam Nông – Phú Thọ). Anh trai vua là Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử (một người trong họ và là tướng của Lý Nam Đê) đem một cánh quân lui về Thanh Hoá. Năm 548, Lý Nam Đế mất.

Triệu Quang Phục (con của Triệu Túc) là người có công lớn trong cuộc khởi nghĩa và được Lý Bí Tất tin cậy. Triệu Quang Phục chọn Dạ Trạch làm căn cứ kháng chiến. Ban ngày, nghĩa quân tắt hết khói lửa, im hơi lặng tiếng. Đêm đến, nghĩa quân chèo thuyền đánh úp trại giặc, cướp vũ khí, lương thực.

– Năm 550, nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, Trần Bá Tiên về nước. Nghĩa quân phản công, đánh bại quân Lương, Triệu Quang Phục lên ngôi vua hiệu Triệu Việt Vương. Lấy tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở thành Long Biên. 20 năm sau, Lý Phật Tử từ phía nam kéo quân về cướp ngôi. Lý Phật Tử lên làm vua, sử cũ gọi là Hậu Lý Nam Đế.

Vua Tuỳ đòi Lý Phật Tử phải sang chầu, nhưng Lý Phật Tử thoái thác không đi. Lý Phật Tử cho tăng thêm quân ở những thành trọng yếu như Long Biên (Bắc Ninh), Ô Diên (Hà Nội), còn mình thì cầm quân giữ thành ở cổ Loa (Hà Nội). Năm 603, mười vạn quân Tuỳ tấn công Vạn Xuân. Lý Phật Tử bị vây hãm ở Cô Loa, rồi bị bắt giải về Trung Quốc.

Chử Đồng Tử và đạo Lão tu Tiên

Tương truyền Chử Đồng Tử sống cùng cha là Chử Cù Vân (渚衢雲) tại thôn Chử Xá, xã Văn Đức (nay thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội). Chẳng may nhà cháy, mất hết của cải, hai cha con chỉ còn lại một chiếc khố phải thay nhau mà mặc. Lúc người cha lâm chung, ông gọi con lại bảo rằng hãy giữ chiếc khố lại cho bản thân. Thương cha nên Chử Đồng Tử liệm khố theo cha, mình thì chịu cảnh trần truồng khổ sở, kiếm sống bằng cách ban đêm câu cá, ban ngày dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền bán cá hoặc xin ăn.

Thời ấy, Hùng vương thứ 18 (Lĩnh Nam chích quái ghi là đời thứ 3), có cô con gái tên là Tiên Dung (仙容), đến tuổi cập kê mà vẫn chỉ thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Một hôm thuyền rồng của Tiên Dung đến thăm vùng Chử Xá. Nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, người hầu tấp nập, Chử Đồng Tử hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh. Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi rồi sai người quây màn ở bụi lau để tắm, ngờ đâu đúng ngay chỗ của Chử Đồng Tử. Nước xối dần để lộ thân hình Chử Đồng Tử dưới cát. Tiên Dung kinh ngạc bèn hỏi han sự tình, nghĩ ngợi rồi xin được cùng nên duyên vợ chồng.

Hùng vương nghe chuyện thì giận dữ vô cùng, không cho Tiên Dung về cung. Nàng biết ý nên cùng chồng mở chợ Hà Thám, đổi chác với dân gian. Buôn bán tấp nập, phồn thịnh, ai cũng kính thờ Tiên Dung và Chử Đồng Tử làm chúa. Một hôm, có người bày cho cách ra ngoài buôn bán nhiều lãi, Tiên Dung khuyên chồng nghe theo. Chử Đồng Tử bèn theo khách buôn đi khắp ngược xuôi. Một hôm qua ngọn núi giữa biển tên Quỳnh Viên sơn (瓊園山), Chử Đồng Tử trèo lên am trên núi và gặp một tăng sĩ tên Phật Quang (佛光). Chử Đồng Tử bèn giao tiền cho khách buôn đi mua hàng, còn mình thì ở lại học phép thuật. Sau thuyền quay lại đón, Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón lá, dụ rằng đây là vật thần thông.

Về nhà, Chử Đồng Tử truyền mọi sự lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán, cùng chồng chu du tìm thầy học đạo. Một hôm tối trời, đã mệt mà không có hàng quán ven đường, hai vợ chồng dừng lại cắm gậy úp nón lên trên cùng nghỉ. Bỗng nửa đêm, chỗ đó nổi dậy thành quách, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng, văn võ bá quan lẫn tiên đồng ngọc nữ đều sẵn sàng để hầu hạ. Sáng hôm sau, dân chúng quanh vùng kinh ngạc bèn dâng hương hoa quả ngọt đến xin làm bầy tôi. Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc như một nước riêng.

Nghe tin, Hùng vương cho là có ý tạo phản, vội xuất binh đi đánh. Quân nhà vua đến, mọi người xin ra chống cự nhưng Tiên Dung chỉ cười và từ chối không kháng cự cha mình. Trời tối, quân nhà vua đóng ở bãi Tự Nhiên cách đó một con sông. Đến nửa đêm bỗng nhiên bão to gió lớn nổi lên, thành trì, cung điện và cả bầy tôi của Tiên Dung-Chử Đồng Tử phút chốc bay lên trời. Chỗ nền đất cũ bỗng sụp xuống thành một cái đầm rất lớn.

Nhân dân cho đó là điều linh dị bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, và gọi đầm đó là đầm Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm), bãi cát đó là Bãi Tự Nhiên hoặc Bãi Màn Trù và chợ đó là Hà Thị.

Sự kiện Chử Đồng Tử học “phép thuật” liên quan đến đạo giáo. Đạo Giáo được truyền bá vào Việt nam sau sự kiên chữ Hán được sử dụng và nó cùng một thời gian với chùa Quán La, chùa Quán Thánh, Bích Câu quán, Đạo Quán Linh Tiên, Chùa quán đế Thích, Chùa quán Tiên, Phúc Lâm Tiên Quán.., Những Quán Thánh này xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 10. Như vậy sự kiện Đầm Dạ Trạch, toàn bộ đầm được hình thành trong một đêm có lẽ liên quan tới việc sụt lún cục bộ vào khoảng sau thế kỷ thứ 10.

Trên sơ đồ các trận động đất chúng ta có thể thấy chúng xuất hiện dọc theo các đứt gãy song song với sông Hồng. Đó là ranh giới của hai lục địa, lục địa Ấn và lục địa Á Âu, đâm vào nhau từ nhiều triệu năm về trước. Cú đâm của mảng lục địa Ấn thúc vào vùng giữa Tuyên Quang và Hà Giang theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Còn bản thân mảng lục địa Ấn thì bị trượt và có xu thế bị phản lực làm cho doãng ra ở phía từ Hòa Bình tới Ninh Bình. Như thế động năng gây ra động đất ở vùng Sơn La là ứng suất dương do bị nén, còn động năng gây ra sụt lún Hồ Tây — đầm Dạ Trạch là ứng suất âm làm đứt gãy các mảng lục địa ở sâu.

Còn nhớ hồ Tây cũng do sụt bị sụt lún vào thế kỷ thứ 10 lún mà thành. Như thế có lẽ vệt Hồ Tây — đầm Dạ Trạch là sụt lún vào cùng một thời gian. Hướng sụt lún Hồ Tây — đầm Dạ Trạch là hướng lòng máng có ứng suất âm.